Hiển thị các bài đăng có nhãn Kết nối dòng họ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kết nối dòng họ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2009

Phán đoán hoàn cảnh Thủy tổ Võ Sơn hầu về Quảng Xá

Ðạo dụ của Tây Ðịnh Vương Trịnh Tạc được khắc bia trên Quả Sơn (Đô Lương, Nghệ An) ra đời vào năm Vĩnh Thọ thứ 4 (1661). Giao tranh Trịnh-Nguyễn được nêu trong văn bia chắc chắn đã xảy ra trên đất huyện Nam Ðường. Xã quê ta-Hoàng Xá bấy giờ thuộc Nam Ðường dưới sự cai quản của chúa Trịnh. Tuy nhiên qua văn bia chúng ta biết được lịch sử của vùng đất Lam Giang trong đó có Hoàng Xá thời kỳ đó. Sau đó chúa Nguyễn chiếm lại vùng đất này và Hoàng Xá được đổi tên là Quảng Xá (tránh húy Nguyễn Hoàng).
Từ đấy chúng tôi chợt hiểu rằng nếu biết rõ thời kỳ nhà Trịnh thì có thể biết được lịch sử, hoàn cảnh cụ Thủy tổ Võ Sơn hầu về lập nghiệp tại Hoàng Xá.
Xét ngược từ thời ông Phạm Viết Bình (1672-1736), chúng ta thấy cụ Thủy tổ đưa con cháu về Hoàng Xá cách lúc ông Bình sinh ra không quá 100 năm và không dưới 50 năm. Vì vậy cụ Thủy tổ lúc đó cũng độ ngũ tuần. Xét các đời chúa Trịnh chúng tôi khả nghi nhất giai đoạn Trịnh Tùng nắm quyền là lúc xảy ra biến động mà cụ Thủy tổ phải rời bỏ quyền chức để lánh về miền đất Lam Giang xa xôi đang tranh chấp Trịnh-Nguyễn.
Qua sắc phong của Triều Lê Trung Hưng cho Võ Sơn hầu và các con chúng ta khẳng định rằng gia đình cụ Thủy tổ chúng ta là người phò tá nhà Lê. Ðiều đó nên hai người con cụ Tổ cũng được phong là Hoa Lộc bá, Cao Bình quận. Lúc đó hai ông đã trưởng thành.
Theo tài liệu Tạp chí Quê Hương trên Internet của Kênh thông tin của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài: Trong thời Trịnh Tùng có hai sự kiện vua Lê muốn loại bỏ Trịnh Tùng không thành.
-Thứ nhất: năm 1572, lúc này vua Lê chúa Trịnh đang ở Thanh Hóa.
Năm Nhâm Thân-1572, Lê Cập Đệ mưu giết Trịnh Tùng bị lộ, Lê Cập Đệ bị Trịnh Tùng giết chết. Vua Lê Anh Tông sợ hãi đang đêm đem 4 hoàng tử chạy vào thành Nghệ An. Trịnh Tùng đưa hoàng tử thứ 5 của vua Lê là Duy Đàm lên làm vua, hiệu là Lê Thế Tông.
-Thứ hai: năm 1619, lúc này vua Lê chúa Trịnh đã chiếm lại Thăng Long từ nhà Mạc.
Trước sự hống hách lộng quyền của chúa Trịnh, vua Lê Kính Tông đã cùng với con Trịnh Tùng là Trịnh Xuân mưu giết Trịnh Tùng. Việc bại lộ, Trịnh Tùng bức vua thắt cổ chết, lúc đó mới 32 tuổi. Tùng đưa thái tử Duy Kỳ lên ngôi vua là Lê Thần Tông.
Chúng tôi thấy vào lần biến loạn thứ nhất cách lúc ông Bình sinh đúng 100 năm, là lúc có thể cụ Thủy tổ còn chưa trưởng thành (ông Tú Bình đời 4, nên xét cách 3 đời tính trung bình mỗi đời 35 năm là cách 105 năm).
Chúng tôi khả nghi nhất là lần biến loạn thứ hai, năm 1619 khi đó cụ Thủy tổ đã là võ quan, có gia quyến, con đã trưởng thành, cùng Phù Lê Diệt Trịnh. Nhưng việc bất thành vua Lê bị giết, lực lượng ủng hộ phải chạy loạn nhằm tránh sự truy sát của chúa Trịnh. Từ Thăng Long cụ Thủy tổ theo đường về quê đón người nhà ở Ðông Thành cùng vào đất Hoàng Xá.
Việc phong tước cho cha con cụ Thủy tổ nhiều khả năng được phong sau này khi các vị đã sống ở Hoàng Xá. Lúc này Trịnh Tùng qua đời (1623), thế lực chúa Trịnh không còn mạnh nữa, các vua sau kế nghiệp xét công trạng của các vị đối với nhà Lê mà phong tước. Ðiều này là hoàn toàn có thể vì nếu trước khi chạy loạn mà cụ Thủy tổ đã là Võ Sơn hầu thì thế lực không nhỏ, nhưng trên thực tế chúng ta thấy rằng họ ta từ trước cũng khá giản dị, chất phác (thường là ông đồ, làm về văn hóa giáo dục-từ đời 4, ông Tú Bình đã là thầy đồ). Nhưng về đời trước cụ Thủy tổ, nhiều khả năng các vị cũng có vị trí đáng kể, một cơ sở để cụ Thủy tổ được phong Võ Sơn hầu.
Một điều mà chúng tôi thấy khó hiểu, trước đây các vị xưa ghi chép về Tổ Tiên khá kỹ. Nhưng một không hề có thông tin gì về gốc gác họ ở Ðông Thành và hoàn cảnh chuyển về Thanh Chương. Có lẽ chính vì biến loạn nên phải mai danh ẩn tích chăng? Hay sách của các cụ xưa bị thiêu trụi hết?
Một điều có thể thấy rằng đức Trung Chính khá rõ ở các vị, các Cụ đã không quá bước theo nhà Nguyễn điều này chúng ta thấy rõ qua nội dung văn bia ở Quả Sơn được dựng lên mấy chục năm sau.
Ðể hiểu rõ về các vị từ Thủy tổ đến ông Tú Bình cần nghiên cứu kỹ giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, đặc biệt những vụ binh biến phù Lê.

Tổ ta Từ Đông Thành chuyển vào có hai anh em

Tổ ta Từ Đông Thành chuyển vào có hai anh em. Một ông là cụ Võ Sơn hầu, còn một nhánh nữa thế nào?
Can Tả-Hương cống Phạm Khắc Sinh là con thứ hai của Hương cống Phạm Bá Thiêm (1710-1768). Ðược thụ chức Giảng dụ [Huấn đạo?] nên các đời sau gọi Cống Phạm Bá Thiêm là Can Giảng Dụ. Can Giảng Dụ là con cả can Sinh đồ Phạm Viết Bình (1672-1736).
Ngày xưa, hai vị đi đò dọc qua bến Thanh Ðàm (nay là xã Nam Tân, Nam Ðàn). Qua đây, hai cha con các vị có trò chuyện với nhau về nguồn gốc Tổ tiên. Can Tả chép lại như sau:
Xưa, tiên công ta (tức là cụ Giảng Dụ) đi thuyền với thân sinh qua bến Thanh Ðàm. Cụ nói với cụ Giảng Dụ rằng:
-Tổ ta từ huyện Ðông Thành đến đây hai anh em. Một ông vào ở làng này. Một ông vào ở giáp Thọ Sơn, thôn Ðịa Linh, xã Hoàng Xá tức vị Thủy tổ ta ngày nay.
*
Về nguồn gốc họ Phạm ta-họ Phạm Ðức ngày nay-ở xã Hoàng Xá nay là xã Thanh Long và Thanh Hà (huyện Thanh Chương, Nghệ An) trong bản dịch chữ Hán của mình, ông Phạm Ðức Lệ (1906-1986) viết:
Sách xưa chép: Tổ ta quán ở huyện Ðông Thành. Ðến vùng này có hai anh em. Một ông vào Bích Triều, thôn Ðặng Xá. Một ông vào xã Quảng Xá, thôn Ðịa Linh, giáp Thọ Sơn là ông Thủy tổ ta ngày nay.
Một ông vào ở làng này thì chắc ai cũng hiểu rằng ông anh hoặc ông em Thủy tổ ta-cụ Tổ này đã vào sinh cơ lập nghiệp ở làng Thanh Ðàm này-phải không? Ðến đây, chúng tôi suy nghĩ theo hai hướng:
a) Một ông vào làng Bích Triều thôn Ðặng Xá ấy chính là cụ Tổ đã vào làng Thanh Ðàm. Thế là cụ đã dời từ Nam Ðàn về Thanh Chương? Nếu vậy, tiện nhất, cụ đã theo đường thủy ngược sông Lam lượn qua quãng núi Ðụn, núi Trăm,... qua xã Nam Thượng, Nam Ðàn bây giờ rồi đổ lên bến đò Phuống xã Bích Triều, nay là xã Thanh Bích, Thanh Giang của Thanh Chương (hữu ngạn sông Lam). Hai anh em cụ Tổ bấy giờ chỉ cách nhau dăm sáu ki-lô-mét là cùng mà sao không còn dấu vết gì về một họ Phạm ở Phuống có quan hệ khăng khít với họ Phạm ở xã Quảng Xá ta? E không đúng vì ông Tú Bình (đời 4), ông Cử Thiêm (đời 5) còn nhắc tới cụ lên ở đất Thanh Ðàm (Nam Ðàn) kia mà?
Cho nên nói Sách xưa chép: Một ông vào làng Bích Triều thôn Ðặng Xá sợ rằng mức độ chính xác không cao. Vả lại, xuôi làng Thanh Ðàm (xã Nam Tân) sát bờ sông Lam xưa cũng có thôn Ðặng Xá của xã giáp giới với Nam Tân. Liệu có nhầm lẫn giữa hai thôn trùng tên này khi chép lại không?
b) Chúng tôi nghĩ cụ Tổ này không về Bích Triều, Thanh Chương mà rất tin vào ông Tú Bình là cháu 4 đời phải biết về người anh em của cụ Cố Võ Sơn hầu mình rất rõ, hiểu thật tường tận ngọn ngành mới dám chỉ bảo cho con là ông Cử Thiêm khi qua bến Thanh Ðàm.
Vậy cụ Tổ này sinh cơ lập nghiệp ở làng Thanh Ðàm, xã Nam Tân (xã này bỏ bờ sông dời vào núi có lẽ đầu 1979). Phải chăng cụ là Thủy tổ họ Phạm ở Thanh Ðàm mà hậu duệ là ông đề-lại Phạm Hưng? Hậu duệ cụ Tổ này có thể có một chi họ ở xã Nam Ðông? Nghe nói ở xã này có rất nhiều người mang họ Phạm Viết. Lại có thể là hậu duệ của cụ đã vượt Nam Ðàn qua Ðức Thọ (Hà Tĩnh) để lập nên họ Phạm Khắc bên đó? Hỏi chuyện một ông giáo giòng họ Phạm Khắc này, ông ta nói cụ Phạm Khắc Hòe đã đi đối chiếu gia phả nói rằng cụ Tổ gốc Yên Thành, cũng là cụ Phạm Tướng công.
Thủy tổ tự xưng: “Khắc Trù chính thức là ta!” Vậy đức Tổ Phạm Viết Trù còn có tên là Phạm Khắc Trù? Hậu duệ của Ngài ở đời 6 có Hương cống Phạm Khắc Sinh cùng 5 con trai (đời 7): Phạm Khắc Cảnh, Phạm Khắc Xương, Phạm Khắc Huồng, Phạm Khắc Phong, Phạm Khắc Thông. Biết đâu cụ Tổ lên ở đất Thanh Ðàm cũng mang họ Phạm Viết và Phạm Khắc mà hậu duệ ở Hà Tĩnh đã mang họ Phạm Khắc. Chuyến hành hương ra Yên Thành tìm họ, người đầu tiên cần gặp là nhà giáo hưu trí Phạm Khắc Hiệu gần ngã ba Công Thành mang họ Phạm Khắc-xem ra gần gũi với họ ta?
Ấy là chút lòng gửi lại là gợi cho con cháu tìm hiểu về cội nguồn Tổ tiên. Phải kịch liệt chống mê tín dị đoan và hiểu thật đúng thế nào là duy tâm, thế nào là mê tín dị đoan thì ta mới chống được triệt để.
Chúng tôi không muốn con cháu tin vào điều thần bí vừa kể mà chỉ muốn con cháu biết suy ngẫm, nghiên cứu để có những hiểu biết đúng đắn về những điều bí ẩn đó. Vả lại, phép đồng cốt cũng gặp nhiều sai lầm khi có vong linh bất hảo nhập vào đồng nói vu vơ những điều nhằm thỏa mãn bản ngã cá nhân. Bởi vì bình sinh họ sống đầy dục vọng, ham mê danh lợi chức quyền nên giờ đây họ hay tự xưng là đấng này đấng nọ phán bảo lung tung.

Họ Phạm Đức - Quảng Xá không đổi từ gốc Mạc sang

Theo sắc phong hầu của đức Tổ dưới thời Lê Trung hưng: Thủy tổ Phạm Viết Trù có công dẹp Mạc ở Đàng Ngoài hoặc cả Nguyễn ở Ðàng Trong. Tuổi thanh niên của Ngài ước chừng vào cuối đời Lê Thế Tông (1573-1599) nên Ngài có công dẹp Mạc Mậu Hợp (1562-1592). Lúc này, con cháu Mạc chưa phải đổi họ và Thủy tổ ta đã mang họ Phạm rồi.
Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu về họ Phạm gốc Mạc thì chưa thấy bóng dáng Họ ta. Cuốn Họ Phạm ở Nghệ Tĩnh từ gốc Mạc Cao Bằng lưu hành quãng 1979-1980, không có Họ Phạm ta. Cuốn Các chi phái họ Mạc do Mạc Lương Sơn (Hoàng Cao Quí) biên tập 9-1998, trang 26 chỉ ghi chi họ Phạm Văn ở Thanh Long, Thanh Chương cùng họ tên người liên lạc không phải Họ ta. Cuốn Mạc Tộc phả do Mạc Hoài Hương (Phạm Tú) biên soạn 4-1997 ở trang Thời kỳ đổi họ ở Yên Thành Nghệ An tuyệt nhiên không có họ Phạm. Ðiều đó chứng tỏ rằng: họ Phạm vốn có ở Yên Thành không từ gốc Mạc.
Chúng tôi nghĩ rằng, họ Phạm ta rất có thể là một nhánh nhỏ, hậu duệ rất rất xa đời Thủy tổ là danh tướng Phạm Tu (476-545) là Thượng Thủy tổ họ Phạm Việt Nam.

Thống kê một số người họ Phạm Đức-Quảng Xá xa xứ sở

1. Anh em Thủy tổ - đời 1 đến vùng ven sông Lam (Thanh Giang, Thanh Chương hoặc Nam Tân, Nam Đàn ). Theo sách cũ của Họ
2. Con út của Thủy tổ- đời 2 ở tại làng Minh Đạt, Đông Thành. Có thể là xã Vân Hội đầu nguồn sông Bùng
3. ông Ðỉnh, ông Khoa, ông Nhã- đời 5 đi Thăng Long Đại tôn, chi thứ 2
4. ông Liên - đời 6 đi Phú Xuân (Huế) Đại tôn, chi thứ 2
5. Phạm Sanh - đời 7 lên miền trên, phía tây Nghệ An Đại tôn, chi thứ 2 em Phạm Trụ
6. Sinh đồ Phạm Bá Tích, sống thời Tây Sơn- đời 5 Không rõ nơi đến Trung tôn, chi thứ 2 . 43 tuổi, phát điên rồi đi mất. Cha Phạm Tuân.
7. Phạm Huy Cứ, Phạm Huy Viên- đời 6 cùng vợ con bỏ đi huyện Ðông Thành núi Tròn mà mất tích Trung tôn, chi thứ 2 hai anh em; bác Phạm Ðoan
8. Phạm Văn Lạp, Phạm Văn Ấm, Phạm Văn Duệ - đời 7 đến Đông Thành Đại tôn, chi thứ 2 . 3 con ô Phạm Huy Huỳnh
9. Phạm Văn Khuê, Phạm Văn Đức, Phạm Văn Bẩm - đời 8 có hậu duệ ở Đông Thành Đại tôn, chi thứ 2, 3 con ô Phạm Văn Duệ
10. Phạm Văn Hiến (- đời 7) con: Lê Phạm Thường, Lê Phạm Phẩm. làm con nuôi họ Lê ở Thổ Hào, Bích Triều; đổi họ Lê Trung tôn, chi thứ 2, con thứ 2 ô Phạm Trọng Hoán
11. Hai anh em Phạm Dương - đời 7 Người đi Phú Xuân, người đi Thăng Long. Là Phạm Dương Cự và Phạm Dương Xuân? Trung tôn, chi thứ 2
12. Phạm Văn Di - đời 8 đi Sơn Nam Đại tôn, chi thứ 2
13. Thư ký Ý - đời 8 đi Phú Xuân
14. Phạm Ðức Kham (Phiềng) - đời 10 sang Thái Lan hoạt động CM , Trung tôn, chi thứ 2
free counters