Chủ Nhật, ngày 26 tháng 6 năm 2011

Đi tìm quê gốc của Thủy tổ Võ Sơn hầu Phạm tướng công

Đình Phượng Lịch

NTT: Hơn 10 năm trước, xã Diễn Hoa của tôi làm hồ sơ đề nghị công nhận đình Phượng Lịch là di tích văn hóa – lịch sử, nhưng vẫn thiếu tài liệu nên nhờ tôi tìm kiếm thêm. Tôi nhớ là hồi kháng chiến chống Pháp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về nói chuyện ở đình này nên tôi nhờ Trung tướng Cao Thượng Lương là người làng tôi, liên hệ với Đại tướng. Và thật vui, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cả Thượng tướng Hoàng Minh Thảo nữa, đã gửi ảnh chân dung với lời đề tặng sau ảnh là “để nhớ những ngày rèn quân luyện cán ở đình Phượng Lịch”. Hai tấm ảnh và bút tích của hai vị tướng đã được chụp lại đưa vào hồ sơ đình làng. Sau đó đình làng đã được công nhận là “Di tích văn hóa – lịch sử”.
Dưới đây là bài viết về đình làng Phượng Lịch trên website Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh:

Đình Phượng Lịch

Đình Phượng Lịch
BTXV: 17:15-21/05/2011
Đình Phượng Lịch nằm giữa làng Phượng Lịch (nay thuộc xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An), cách thành phố Vinh khoảng 42 km về phía Tây Bắc.
Lúc mới xây dựng, ngôi đình này thuộc làng Phượng Lịch, xã phượng Lịch, tổng Lý Trai, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu. Theo sự biến đổi của đơn vị hành chính, từ năm 1945 đến năm 1954, làng Phượng Lịch nhập vào các xã: Đào Viên, Nam Giang, Hoa Lâm, Trung Diễn, Quảng Châu, Diễn Hoa (cũ). Từ năm 1969 đến nay, đình Phượng Lịch thuộc xã Diễn Hoa.
Du khách thập phương có thể đến di tích dễ dàng với nhiều loại phương tiện khác nhau. Xuất phát từ thành phố Vinh, du khách theo quốc lộ 1A đi về phía Bắc theo tuyến Vinh – Hà Nội, qua ngã ba Diễn Châu đến đài tưởng niệm liệt sỹ khoảng 100m rẽ trái theo đường liên xã khoảng 2km là đến di tích.
Nếu xuất phát từ phía Bắc, du khách theo quốc lộ 1A đi về phía Nam, qua Cầu Bùng (thuộc xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu) khoảng 1km, rẽ phải theo đường liên xã khoảng 2km là đến đình Phượng Lịch.
Làng Phượng Lịch là làng cổ, nằm ở địa thế thuận tiện về giao thông, có nhiều lợi thế về phát triển kinh tế, đặc biệt có nghề dệt vải nổi tiếng. Vải của dân Phượng Lịch dệt ra gọi là vải Bùi, loại vải này cũng nổi tiếng như tơ lụa ở Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu với câu ca: “Sống mặc vải Bùi, chết vùi vàng tâm” (vàng tâm là gỗ quý)…
Song song với việc phát triển kinh tế, đời sống tinh thần của nhân dân cũng được nâng cao, nhân dân làng Phượng Lịch đã tạo dựng nên nhiều ngôi đình, chùa, việc tế lễ xưa được tổ chức lớn và thường xuyên.
Đình Phượng Lịch được nhân dân làng Phượng Lịch xây dựng từ năm 1866 để làm nơi hội họp, sinh hoạt văn hóa của làng, về sau đình được xây dựng thêm nhà Tả vu, Hữu vu và Hậu cung để làm nơi thờ vọng các vị Thành hoàng của làng. Trước đây, đến các ngày lễ, nhân dân trong làng lại tổ chức rước long ngai, bài vị và nhiều đồ tế khí ở đền Phượng Lịch về bài trí tại tòa Hậu cung của Đình Phượng Lịch để thờ Thành hoàng là công chúa Hồng Thị Châu Nương (vợ 3 của Thượng tướng Trần Quang Khải).
Năm 1266, triều đình nhà Trần xuống chiếu cho Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải vào làm quản hạt Nghệ An với nhiệm vụ củng cố, xây dựng lực lượng ở phương Nam để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên. Công chúa Hồng Thị Châu Nương cũng theo chồng vào Nghệ An. Tại đây, bà đã chiêu dân lập ấp, mở ra một trang trại lớn gọi là Giang Lâm (gồm xã Hạnh Lâm và Đào Viên cũ) tức đất của xã Diễn Quảng, Diễn Hạnh và Diễn Hoa hiện nay. Tại Giang Lâm, bà đã dạy cho dân cách trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa, trồng bông, dệt vải…Sau khi công chúa Hồng Thị Châu Nương qua đời, nhân dân làng Phượng Lịch đã lập đền thờ để tưởng nhớ công lao to lớn của bà.
Không chỉ mang nhiều giá trị văn hóa kiến trúc, mỹ thuật, nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa của làng, đình Phượng Lịch còn là di tích đã ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử cách mạng quan trọng của địa phương, gắn liền với sự nghiệp giữ nước của dân tộc.
Trong phong trào yêu nước những năm đầu thế kỷ XX, theo tiếng gọi của cụ Phan Bội Châu, nhiều con em Diễn Châu đã hăng hái ra đi xuất dương tìm đường cứu nước. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, Phủ ủy Lâm thời Diễn Châu cũng được thành lập vào tháng 7/1930.
Ban chấp hành lâm thời đã nhanh chóng phân công trọng trách cho từng đồng chí trong phủ ủy và mở rộng phát triển Đảng trong huyện.
Đầu tháng 11/1930, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Diễn Hoa, Diễn Viên, Diễn Hạnh được thành lập – Chi bộ Nam Khoán gồm 4 đồng chí: Trần Hộ, Nguyễn Trân, Lê Hùng, Ngô Sỹ Quyền, do đồng chí Trần Hộ làm Bí thư. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, các tổ chức: Nông hội đỏ, Tự vệ đỏ, Phụ nữ giải phóng được thành lập và phát triển sôi nổi. Đình Phương Lịch đã trở thành địa điểm hội họp, in ấn tài liệu, báo chí, truyền đơn của Đảng và là nơi diễn ra cuộc biểu tình vào ngày 7/11/1930 của hàng trăm người dân các làng: Phượng Lịch, Trung Hậu, Đông Phái, Tràng Khê và các làng xung quanh. Quần chúng nhân dân mang theo cờ, khẩu hiệu đã tập trung tại đình rồi kéo về tổng Lý Trai đấu tranh. Sau khi làm lễ kỉ niệm 13 năm ngày Cách mạng tháng Mười Nga tại các địa điểm trên, nhân dân tiếp tục kéo về phủ lỵ Diễn Châu đưa yêu sách. Đoàn biểu tình tổng Lý Trai đi dọc theo tỉnh lộ 38, trên đường đi đã kéo vào Ga Sy và Lính Đoan, một số vây bắt tên quản lan ở Thừa Sủng (xã Diễn Hạnh). Đoàn của tổng Hoàng Trường và tổng Vạn Phần tiến vào Phủ Diễn làm cho Tri phủ Võ Vọng hoảng sợ, phủ đường rối loạn… Bất chấp súng đạn đàn áp của kẻ thù, đồng chí Lê Niêm – tổng chỉ huy cuộc biểu tình đã dương cao cờ đỏ búa liềm, hô vang khẩu hiệu, thúc dục quần chúng tiến lên. Mặc cho đạn địch bắn ra như mưa, cờ đỏ búa liềm vẫn phấp phới tung bay, băng cờ, khẩu hiệu vẫn được dương cao, đoàn biểu tình tiến ngày một gần, chỉ cách phủ lỵ có 10m. Thực dân Pháp đã cho lính xông ra đàn áp đoàn biểu tình làm cho 30 người hy sinh, 8 người bị thương cũng bị đem ra xử bắn trong chiều 7/11/1930. Tuy nhiên cuộc đấu tranh này đã làm cho bộ máy của địch ở các làng xã hoang mang, hoảng sợ, sức mạnh của quần chúng nhân dân khiến cho bọn hào lý địa phương phải bỏ trốn.
Trong hoàn cảnh đó, Chi bộ Nam Khoán đã nắm lấy thời cơ nhanh chóng xây dựng các tổ chức quần chúng, đặc biệt là các tổ chức: Nông hội đỏ, Thanh niên, Phụ nữ, Tự vệ gia tăng áp lực lên bộ máy của địch vốn đã rệu rã. Đình Phượng Lịch lại trở thành địa điểm sinh hoạt, hội họp của chi bộ và nhân dân địa phương. Không khí ở làng Phượng Lịch nói riêng và ở Diễn Hoa nói chung ngày càng nhộn nhịp, ban ngày nhân dân chăm lo sản xuất, tích cực trong đấu tranh còn ban đêm lại lo học tập chính trị, văn hóa thông qua những lớp học chữ quốc ngữ… Những tập tục lạc hậu từng bước bị xóa bỏ, lối sống mới bước đầu được xây dựng.
Hoảng hốt trước bão táp cách mạng, thực dân Pháp dồn sức đàn áp hòng dìm Nghệ Tĩnh trong biển máu… Tại làng Phượng Lịch, chúng đã bắt các đồng chí: Phạm Căn, Vũ Phương, Trần Cầu, Cao Phúc đem tập trung về đình để tra khảo, sau đó giải đi giam ở huyện và tỉnh…
Từ năm 1936 – 1939, Diễn Châu đã có Đảng bộ với 15 Chi bộ gồm 87 đảng viên lấy danh nghĩa của các tổ chức phường hội để làm cơ sở che mắt địch. Ở Phượng Lịch có phường dệt vải và trồng dâu nuôi tằm ra đời và hoạt động rất tích cực. Đình Phượng Lịch trở thành trung tâm hoạt động của các phường hội lúc bấy giờ.
Tháng 10/1944, đồng chí Bùi Tự Cường thay mặt Phủ ủy Diễn Châu về tổ chức Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên tại Phượng Lịch gồm 4 đồng chí đảng viên do đồng chí Phạm Duân làm Bí thư Chi bộ. Dưới sự chỉ đạo của Chi bộ Phượng Lịch, phong trào cách mạng nơi đây đã phát triển mạnh mẽ trong tầng lớp thanh niên…
Ngày 20/8/1945, các đồng chí trong Đảng bộ huyện Diễn Châu triệu tập Hội nghị khẩn cấp tại đình Phượng Lịch bàn kế hoạch giành chính quyền ở phủ lỵ do đồng chí Phạm Duân trực tiếp chỉ đạo. Để tránh đổ máu cho quần chúng trong cuộc đấu tranh, đồng chí Phạm Hoàn được phân công làm chỉ huy lực lượng tự vệ khống chế quan phủ và tước vũ khí đội lính khố xanh. Số vũ khí thu được gồm 14 khẩu súng đã được cất dấu tại đình Phượng Lịch chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền.
8h sáng ngày 21/8/1945, cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc đình Phượng Lịch. Sau khi thu hồi dấu ấn của lý trưởng, đình Phượng Lịch lại trở thành nơi làm việc của Ủy ban khởi nghĩa và là trụ sở của ủy ban hành chính kháng chiến lâm thời của xã Phượng Lịch. Ngôi đình này còn là địa điểm tổ chức bầu cử Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Từ năm 1946, Đình Phượng Lịch là địa điểm diễn ra nhiều hoạt động của phong trào cách mạng, là nơi làm lễ tiễn đưa các lớp trai làng lên đường đánh giặc cứu nước theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tháng 8/1947, Công đoàn Liên khu IV tổ chức Đại hội và triển lãm thành tích kháng chiến tại đình Phượng Lịch trong thời gian 7 ngày, đồng chí Hồ Tùng Mậu – Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu đã về dự.
Tháng 12/1948, Đại hội liên hoan Thanh niên tỉnh Nghệ An được tổ chức tại đình Phượng Lịch, Thiếu tướng Nguyễn Sơn đã về dự và nói chuyện với Đại hội. Từ năm 1951-1952, đình là địa điểm của xưởng dệt vải Tam Hợp – Diễn Châu để cung ứng vải cho bộ đội Vệ quốc đoàn. Cũng tại ngôi đình này, Sư đoàn 304 đã tổ chức sinh hoạt “rèn quân luyện cán” để chuẩn bị cho chiến dịch Đông Xuân 1951-1952, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về thăm và nói chuyện với sư đoàn…
Hiện nay, đình Phượng Lịch vẫn là nơi tổ chức hội họp cho thanh thiếu niên và tổ chức lễ mừng thọ cho các cụ cao niên ở địa phương vào đầu xuân.
Dựa vào thuyết địa lý phong thủy mà cổ nhân đã chọn vị trí xây dựng đình ở giữa một quần cư rất trù mật, quanh đình có làng mạc, cây đa, đình chợ, giếng nước, cùng với nhiều kiến trúc cổ như cổng làng, điếm canh, nhà thánh, đền, chùa. Hiện nay, đình Phượng Lịch nằm giữa một vùng đất rộng, bằng phẳng, bốn bề tiếp giáp với với dân cư và trung tâm chính trị, văn hóa của xã. Cách đình khoảng 100m về phía Tây Nam là trường tiểu học, trường THCS và UBND xã Diễn Hoa. Mặc dù đã trải qua nhiều biến cố lịch sử và nhiều lần tu sửa nhưng ngôi đình này vẫn giữ được dáng vẻ thiêng liêng, cổ kính, hòa quyện với phong cảnh ấm cúng của làng quê.
Trước đây, đình Phượng Lịch có bốn công trình kiến trúc là: tòa đình, nhà hậu cung, nhà tả vu và hữu vu. Hiện nay, đình Phượng Lịch chỉ còn lại tòa đình tọa lạc trên khuôn viên có diện tích rộng 1020m2, xung quanh được xây tường bao, ở trong là khu đất bằng phẳng được trồng nhiều cây xanh vừa tạo bóng mát vừa tôn thêm vẻ đẹp cảnh quan và môi trường của di tích.Cổng đình khá rộng, gồm có 2 cột trụ vuông cao 2m, trên đỉnh có hình cầu. Mặt ngoài có viết đôi câu đối bằng chữ Hán: “Diên niên thu hậu phúc Lũy thế thưởng Trường An”
Một đoạn tường uốn cong nối cột trụ với cột quyết, hai cột quyết cao 3,5m; rộng 0,40m, trên có đấu hình vuông. Qua cổng là đến đoạn đường dài 24m; rộng 3,2m, hai bên bó vỉa bằng gạch cao 0,3m để phân giải đường đi với vườn. Mặt đường được lát gạch Cẩm Trang.
Sân đình dài 20m, xung quanh được xây tường bao, hai góc ngoài của sân xây hai cột trụ hình vuông. Nối đường với hai sân là hai cột nanh, trên đỉnh cột có đắp tượng hai con nghê chầu vào nhau. Trên thân cột viết hai câu đối với nội dung: “Mộc xuất thiên chi do hữu bản Thủy lưu vạn phái tố tùng nguyênVà:
Lễ nhạc uy nghi kính như thần tại Âu ca cổ vũ lạc tại nhân hòa”.
Tòa đình có kiến trúc thời Nguyễn, quy mô lớn, diện tích xây dựng 150m2, nhà quay về hướng nam gồm 5 gian, 6 vì, mỗi vì có 4 cột được kê trên những tảng đá xanh lớn. Các cột được liên kết ngang với nhau bằng hệ thống vì kèo kẻ chuyền, văng và khấu đầu, tất cả được bào trơn, đóng khít, xàm thắt mộng đuôi én tạo nên sự vững chắc. Riêng hai vì ở giữa trốn hai cột cái thay bằng hai trụ tròn, kê trên đấu hình vuông làm cho các gian 2,3,4 rộng rãi thuận tiện trong những khi tế lễ. Xà dọc của các vì có đầu dư chạm hình rồng chầu vào nhau. Các vì được liện kết với nhau bằng các đường xà thượng, xà hạ thượng lương, hoành, khấu đầu, lá mái, tạo thành bộ khung nhà 5 gian rộng rãi, vững chắc. Đình được rải rui bản bằng gỗ lim dày, mái lợp ngói âm dương. Bốn góc nhà đình có xây cột hình trụ vuông rộng để đỡ bốn góc mái…
Trên các bộ phận kiến trúc của đình đều được các nghệ nhân trang trí nhiều họa tiết hài hòa là các đề tài dân gian quen thuộc trong kiến trúc cổ như: rồng phượng vờn nhau, tùng lộc, phượng ngậm thư… với trình độ kỹ thuật tay nghề đạt đến kỹ xảo.
Trên bờ nóc của đình có đắp hình “lưỡng long triều nguyệt” gồm những mảng phù điêu sinh động bằng chất liệu tổng hợp. Các nghệ nhân đã tạo thành những con rồng có màu sắc, thân hình to, khỏe với đầy đủ các bộ phận tạo thành những đường cong mềm mại. Hai đầu kìm hai bên bờ nóc có đắp hình hai con cá sấu chầu vào nhau. Trên bờ giải có hai con nghê quay đầu vào nhau rất sinh động, bốn đầu đao cong vút với hình cá hóa rồng cách điệu và hình chim phượng xòe cánh dáng vẻ uốn cong tạo nên cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát…
Hiện nay bài trí trong đình Phượng Lịch chỉ còn một bức đại tự gắn trên xà bằng gỗ, hình cuốn thư được sơn son thiếp vàng, xung quanh có họa tiết trang trí hình “lưỡng long triều nguyệt” và “tứ linh”, “tứ quý” được chạm trổ công phu, ở giữa có khắc bốn chữ Hán: “Phượng kỷ vạn niên”. Ở phía trên có ghi: “Bảo Đại Nhâm Ngọ xuân”, ở bên phải có ghi “Nguyên Tổng Quang lộc hưu khánh Phạm Hải nhi đại nghi”, bên trái có ghi “Bản xã quần anh thổ đồng bái khánh”…
Không chỉ mang trong mình những giá trị văn hóa Việt quý báu thể hiện trong từng kiến trúc, những nét chạm trổ tinh xảo, nét sơn son bay bổng… đình Phượng Lịch còn là chứng tích ghi dấu thời kỳ đấu tranh rung trời chuyển đất của nhân dân Nghệ Tĩnh năm 1930-1931 và trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Với những giá trị to lớn đó, di tích đình Phượng Lịch xứng đáng là một di tích lịch sử – văn hóa cần được giữ gìn và phát huy giá trị trên mảnh đất Diễn Châu giàu truyền thống cách mạng.

Nguồn: blog Nguyễn Trọng Tạo

Thứ Ba, ngày 15 tháng 2 năm 2011

Viếng thăm quê cha đất Tổ đầu Xuân


Ban thờ chính


Nhà thờ Đại tôn




Nhà thờ Trung tôn





Công trình xây dựng năm 2010

Chủ Nhật, ngày 09 tháng 8 năm 2009

Dòng sông Lam

Nguồn: http://www1.vietnamnet.vn/bandocviet/2009/02/827259/

16:17' 05/02/2009 (GMT+7)
- Chảy âm thầm và mãnh liệt men theo những miền quê hiền hậu, thủy chung với tất cả, sông Lam mang trong mình bầu tâm sự khó sẻ chia. Có khi cùng với những muộn phiền khó hiểu, sông lăn mình trong mùa lũ xả giận với con người.


Dòng sông Lam. (Ảnh VNN)

Tôi sinh ra trên một mảnh đất nghèo xứ Nghệ. Dòng sông Lam vắt ngang như một người mẹ chở che và bao bọc lấy làng quê.

Sông Cả, tên cũ của sông gợi một kí ức nguồn cội xa xưa. Bắt nguồn từ vùng Nậm Căn của đất Lào, phần chính của sông chảy qua Nghệ An. Không bao giờ cô độc, dòng sông Cả bao dung ôm lấy các con sông khác hợp thành một dòng sông lớn mải miết bồi đắp những vùng đất màu mỡ.

Tạo dựng được dáng hình của mình, Sông Cả lại đổi sang một cái tên gợi cảm hơn, quyến rũ hơn. Có lẽ một sự hồi sinh mới chăng?

Chữ Lam gợi ra bao sự dịu ngọt, trong trẻo và mát lành. Trẻ trung, sôi nổi, sông Lam đa tình bám theo những chân đèo, say sưa với những cuộc lãng du đi tìm miền đất lạ, cũng thích quẩn quanh trong những ngõ nhỏ bí ẩn trong hẻm núi. Dốc nhiều, thác nhiều, sông chia ra các nhánh lớn, nhỏ khác nhau rong chơi khắp mọi miền quê xứ Nghệ rồi rủ nhau thầm lặng hay ào ạt đổ ra biển Đông.

Chảy âm thầm và mãnh liệt men theo những miền quê hiền hậu, thủy chung với tất cả, sông Lam mang trong mình bầu tâm sự khó sẻ chia. Có khi cùng với những muộn phiền khó hiểu sông lăn mình trong mùa lũ xả giận với con người. Đa tình mà kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình, dịu dàng, đằm thắm nhưng không kém phần dữ dội mà mãnh liệt, ở sông, tôi tìm thấy một phần mảnh hồn tôi.

Tuổi ấu thơ tôi đê mê trong vòng tay ngọt ngào của nước. Hai tiếng thủy thần được sinh ra từ đó. Thủy thần xuất hiện chúng mày ơi! Chúng tôi dọa nhau làm nước bắn tung tóe. Thủy thần ở đâu? Ra giữa lòng sông chơi trốn tìm cùng tuổi thơ tôi. Tôi hòa tan mình vào dòng nước từ lúc lên tám. Tuổi thơ tôi vung vãi khắp nơi trên vùng sông nước này. Tìm giúp tôi đi thủy thần!

Ngoại tắm cuộc sống thơ bé của tôi bằng những buổi chiều hè nắng. Tôi đi mót củ khoai, bắt dế, còn ngoại ra sông gánh nước. Nước sông mát và trong lắm. Tôi chạy theo những con vật bé nhỏ lẩn mình trong cát. Tóm gọn một cách nhẹ nhàng, tôi lại thả ra. "Cố sức cày đất nghe mày! Gặp dã tràng nhắn giùm tao với!".

Dòng nước chảy trong tôi như một tiềm thức ẩn náu niềm thương nỗi nhớ. Đâu được gọi là mặc cảm trong tôi. Giữa dòng sông con người cảm giác mình bé nhỏ, cảm giác mình bị phạm tội.

Dòng sông chảy dọc kí ức tôi vừa dạt dào tươi mát vừa nóng bỏng, dữ dội. Và có cả cái giản dị của những mối tình thầm lặng nữa. Tất cả đem đến cho sông quê một cảnh sắc hữu tình. Mang theo nỗi niềm của người con gái mơ mộng, sông nằm nghiêng bên bãi cát đón mặt trời rơi vào lòng nó.

Tôi chơi vơi giữa cuộc đời chỉ mong có ngày về gội rửa tâm hồn mình bằng dòng nước bập bõm ngang lưng. Làng quê vẫn nghèo khó. Sông Lam vẫn một mực thủy chung và mỏi mòn chờ đợi một sự đổi khác sẽ đến với mảnh đất này. Tôi cũng sẽ đợi chờ một người mang tôi trở về với sông nước quê hương.
Huệ Nguyễn

Chủ Nhật, ngày 05 tháng 7 năm 2009

Về vị sinh đồ thời Nguyễn Ánh

Ở trang 23 ebook Quốc triều chánh biên toát yếu có ghi vào năm 1801:

« Đổng lý giặc [Tây Sơn] là Nguyễn Văn Thận đem lính giữ dinh Hà Trung; Nguyễn Văn Trương dâng sớ xin thừa cơ ra đánh, Ngài [Nguyễn Ánh] dụ rằng: ‘Tướng quân là trụ thạch lão thần, nhà nước ỷ trọng lắm; ngày nào đem quân ra đánh, phải chia thủy bộ hai đạo kéo qua Thanh, Nghệ hội với binh thượng đạo, để bắt cho hết đảng giặc, nay mai bắt được Diệu, Dõng [Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng], ta sẽ sai các tướng ra Thăng Long để yên định Bắc Hà’. Ngài lại nghĩa [nghĩ] rằng: Tham tán phải có quan văn, phải có người nào thuộc tất địa thế và dân tình ngoài Bắc mới làm Tham tán được; liền đòi Đặng Trần Thường, Nguyễn Trí Hòa về Kinh hầu chỉ.

Huyện thừa Nghệ An là Hoàng Thạch Phỏng, sanh đồ là Phạm Kiến Tích xin đi đánh giặc, Ngài cho Phỏng làm Chánh cơ, Tích làm Chánh đội khiến đem lính Hưng Nghĩa theo Nguyễn Văn Trương sai phái.

Sai Giám thành Nguyễn Văn Yên đo lũy Trấn Ninh (tức là lũy Đồng Hới) từ núi Đâu Mâu đến cửa Nhật Lệ, xem xét tình thế, rồi vẽ địa đồ dâng lên Ngài xem. Lũy ấy dài 1120 trượng. »

Cùng thời này họ Phạm Đức có ông đời 5 là Phạm Bá Tích, đỗ sinh đồ thời Lê mạt. Khi cả nhà đang ăn mừng tân sinh đồ thì ông phát điên bỏ đi mất. Lúc đó ông 43 tuổi, đã có con là Phạm Tuân.

Chúng tôi trộm nghĩ: có một sự trùng hợp khi ông Phạm Kiến Tích cũng là sinh đồ cùng thời. Như cách chọn người của Nguyễn Ánh thì rất có thể vị sinh đồ này là người Thanh Nghệ. Nếu ông Phạm Kiến Tích không là hậu duệ thuộc dòng họ Phạm khác họ Phạm Đức-Quảng Xá thì rất có thể đó chính là ông Phạm Bá Tích.
Một giả thuyết được nêu lên: Hồi bấy giờ người họ Phạm Đức theo Tây Sơn là chính, có Hương cống Phạm Khắc Sinh được Quang Trung sắc phong Chương Đường nhị huyện dân sư. Như vậy có thể sinh đồ Bá Tích đã giả điên để vào Đàng Trong theo Nguyễn Ánh?

Rất mong các dòng họ nếu có thông tin về vị sinh đồ Phạm Bá Tích và sanh đồ Phạm Kiến Tích báo tin cho chúng tôi để giúp xác minh giả thuyết trên.

Chân thành cám ơn quý vị !

Thứ Hai, ngày 01 tháng 6 năm 2009

Đình Võ Liệt

Vị trí: Tại xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương. Cách đi đến: Có thể đi từ Vinh, theo đường quốc lộ 46, qua cầu Rộ, hoặc đi từ đường Hồ Chí Minh theo tuyến đường về Nam Đàn bạn đến xã Thanh Liệt - huyện Thanh Chương, nơi có ngôi đình lớn - đó là đình Võ Liệt.

Đình Võ Liệt
Đình Võ Liệt được xây dựng vào năm 1859 tại xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương. Người chủ trì thiết kế và đôn đốc xây dựng là ông Hoàng Chính Trực, đậu cử nhân năm 1858.

Ngoài thờ thần, đình Võ Liệt còn là một văn chỉ của làng. Điều này thể hiện rõ qua việc thờ tự trong đình - Khổng Tử, ông tổ của đạo Nho, các vị tiên hiền đậu đạt ở địa phương và còn được cụ thể hoá qua 6 tấm bia đá xanh đặt 2 bên sân đình. Bia ghi danh sách họ tên 443 người con trong tổng Võ Liệt đậu tú tài đến đại khoa.

Đình có diện tích 346,8m2, kiến trúc chữ “khẩu”, 4 góc khép kín. Ngoài đình chính phía trước, còn có 2 đình 2 bên và một đình phía sau theo lối chồng diêm hai tầng uy nghi. Dãy đình phía trước cao 5m, dãy tầng lầu phía sau cao 7m (từ nóc trở xuống). Dãy đình tả và hữu cao 4,3m. Đình gồm 54 cột bằng gỗ lim. Trong đó có 6 dãy cột đình phía trước, chu vi mỗi cột 90 cm và 48 cột còn lại, mỗi cột chu vi 80cm. Các phần kiến trúc gỗ trong đình được trang trí rất đơn giản với những hoạ tiết hoa văn không cầu kỳ.

Vào những năm 1930 - 1931 khi cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh nổ ra, đình Võ Liệt là trụ sở của phong trào Cách mạng, nhiều cuộc họp, cuộc đấu tranh diễn ra ở đây. Trước đây, lễ hội đình Võ Liệt tổ chức lễ hội vào đầu tháng 2 (âm lịch), lễ kỳ khoa (3 năm 1 lần). Ngày nay lễ hội đình Võ Liệt được tổ chức hàng năm vào ngày 1/9 (ngày Xô viết Thanh Chương) nhằm ôn lại truyền thống văn hoá và cách mạng để giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Đình Võ Liệt đã được xếp hạng cấp Quốc gia. Đây là một địa chỉ đỏ quan trọng trong di sản văn hoá của nhân dân xứ Nghệ nói riêng và của đất nước nói chung.

Theo Du lịch đất Nghệ
http://dulichdatnghe.com/group.asp?menu=detail&id=62

Thứ Bảy, ngày 09 tháng 5 năm 2009

Người họ Phạm lưu danh trên văn bia đình Võ Liệt

Trên văn bia ở đình Võ Liệt (dạng Văn Miếu của tổng Võ Liệt, huyện Thanh Chương)
Bia số 1: Bia ghi đại khoa các triều (tổng số 5 vị)
Bia số 2: Lê triều hương cống bi chí (tổng số 28 vị) cử nhân triều Lê
10. Phạm Bá Thiêm: Quý Hợi (1743) khoa hương cống, chi thụ Giảng dụ, Khắc Sinh phụ (Đời 5, họ Phạm Đức-Quảng Xá).
13. Phạm Khắc Sinh: Giáp Ngọ (1774) khoa hương cống, Canh Tý niên khảo liệu sử xuân trung, Bá Thiêm thứ tử (Đời 6, họ Phạm Đức-Quảng Xá)
24. Phạm Năng Dung: Quốc tử giám sinh
Bia số 3: Lê triều hiệu sinh sinh đồ bi chí (tổng số 262 vị)-tú tài
34. Phạm Viết Huyên?
57. Phạm Huy Quang
80. Phạm Thế Danh (Đời 4, họ Phạm Đức-Quảng Xá)
82. Phạm Viết Hòa?
86. Phạm Viết Bình (Đời 4, họ Phạm Đức-Quảng Xá, cha của HC P. Bá Thiêm)
91. Phạm Viết Dung?
93. Phạm Bá Tích (Đời 5, họ Phạm Đức-Quảng Xá)
122. Phạm Huy Huỳnh (Đời 6, họ Phạm Đức-Quảng Xá)
123. Phạm Gia Hưng (Đời 6, họ Phạm Đức-Quảng Xá, con HC P. Bá Thiêm)
124. Phạm Công Diên (Đời 6, họ Phạm Đức-Quảng Xá, con HC P. Bá Thiêm)
125. Phạm Huy Thước (Đời 6, họ Phạm Đức-Quảng Xá, con HC P. Bá Thiêm)
140. Phạm Văn Quán
141. Phạm Văn Thưởng
199. Phạm Tiến Đức
259. Phạm Huy Cự (Đời 6, họ Phạm Đức-Quảng Xá)
Bia số 4: Hoàng triều cử nhân bi chí (tổng số 36 vị)
27. Phạm Đức Nhiếp (tức Tiệp) Đậu khoa Mậu Tý (1888) đời vua Đồng Khánh (1886-1888). Hương khoa lục ghi là Phạm Đức Nhiếp, đứng thứ 27/37, người xã Sơn Linh, làm quan đến chức Huấn đạo. (Đời 9, họ Phạm Đức-Quảng Xá)
35. Phạm Đức Hoàn: Hương khoa lục ghi là Phạm Đức Khoản, đậu khoa Mậu Ngọ (1918) đời vua Khải Định (1916-1925), đứng thứ 11/15, người xã Sơn Linh, làm quan ở Quốc tử giám. (Đời 10, họ Phạm Đức-Quảng Xá, con CN P. Đức Nhiếp)
Bia số 5: Hoàng triều tú tài bi chí (tổng số 62 vị)
7. Phạm Đức Tư: Mậu Tý (1828)
8. Phạm Đức Mậu: Tân Dậu, tam khoa (Đời 8, họ Phạm Đức-Quảng Xá, cha CN P. Đức Nhiếp)
29. Phạm Văn Đào: Mậu Tý
30. Phạm Đăng Phương: Giáp Ngọ
44. Phạm Lê Trú: Tân Tỵ
45. Phạm Huy Đạo: Ất Dậu
51. Phạm Tiến Dước: Giáp Ngọ, tứ khoa
Bia số 6: Hoàng triều tú tài bi chí (tổng số 52 vị)

Phán đoán hoàn cảnh Thủy tổ Võ Sơn hầu về Quảng Xá

Ðạo dụ của Tây Ðịnh Vương Trịnh Tạc được khắc bia trên Quả Sơn (Đô Lương, Nghệ An) ra đời vào năm Vĩnh Thọ thứ 4 (1661). Giao tranh Trịnh-Nguyễn được nêu trong văn bia chắc chắn đã xảy ra trên đất huyện Nam Ðường. Xã quê ta-Hoàng Xá bấy giờ thuộc Nam Ðường dưới sự cai quản của chúa Trịnh. Tuy nhiên qua văn bia chúng ta biết được lịch sử của vùng đất Lam Giang trong đó có Hoàng Xá thời kỳ đó. Sau đó chúa Nguyễn chiếm lại vùng đất này và Hoàng Xá được đổi tên là Quảng Xá (tránh húy Nguyễn Hoàng).
Từ đấy chúng tôi chợt hiểu rằng nếu biết rõ thời kỳ nhà Trịnh thì có thể biết được lịch sử, hoàn cảnh cụ Thủy tổ Võ Sơn hầu về lập nghiệp tại Hoàng Xá.
Xét ngược từ thời ông Phạm Viết Bình (1672-1736), chúng ta thấy cụ Thủy tổ đưa con cháu về Hoàng Xá cách lúc ông Bình sinh ra không quá 100 năm và không dưới 50 năm. Vì vậy cụ Thủy tổ lúc đó cũng độ ngũ tuần. Xét các đời chúa Trịnh chúng tôi khả nghi nhất giai đoạn Trịnh Tùng nắm quyền là lúc xảy ra biến động mà cụ Thủy tổ phải rời bỏ quyền chức để lánh về miền đất Lam Giang xa xôi đang tranh chấp Trịnh-Nguyễn.
Qua sắc phong của Triều Lê Trung Hưng cho Võ Sơn hầu và các con chúng ta khẳng định rằng gia đình cụ Thủy tổ chúng ta là người phò tá nhà Lê. Ðiều đó nên hai người con cụ Tổ cũng được phong là Hoa Lộc bá, Cao Bình quận. Lúc đó hai ông đã trưởng thành.
Theo tài liệu Tạp chí Quê Hương trên Internet của Kênh thông tin của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài: Trong thời Trịnh Tùng có hai sự kiện vua Lê muốn loại bỏ Trịnh Tùng không thành.
-Thứ nhất: năm 1572, lúc này vua Lê chúa Trịnh đang ở Thanh Hóa.
Năm Nhâm Thân-1572, Lê Cập Đệ mưu giết Trịnh Tùng bị lộ, Lê Cập Đệ bị Trịnh Tùng giết chết. Vua Lê Anh Tông sợ hãi đang đêm đem 4 hoàng tử chạy vào thành Nghệ An. Trịnh Tùng đưa hoàng tử thứ 5 của vua Lê là Duy Đàm lên làm vua, hiệu là Lê Thế Tông.
-Thứ hai: năm 1619, lúc này vua Lê chúa Trịnh đã chiếm lại Thăng Long từ nhà Mạc.
Trước sự hống hách lộng quyền của chúa Trịnh, vua Lê Kính Tông đã cùng với con Trịnh Tùng là Trịnh Xuân mưu giết Trịnh Tùng. Việc bại lộ, Trịnh Tùng bức vua thắt cổ chết, lúc đó mới 32 tuổi. Tùng đưa thái tử Duy Kỳ lên ngôi vua là Lê Thần Tông.
Chúng tôi thấy vào lần biến loạn thứ nhất cách lúc ông Bình sinh đúng 100 năm, là lúc có thể cụ Thủy tổ còn chưa trưởng thành (ông Tú Bình đời 4, nên xét cách 3 đời tính trung bình mỗi đời 35 năm là cách 105 năm).
Chúng tôi khả nghi nhất là lần biến loạn thứ hai, năm 1619 khi đó cụ Thủy tổ đã là võ quan, có gia quyến, con đã trưởng thành, cùng Phù Lê Diệt Trịnh. Nhưng việc bất thành vua Lê bị giết, lực lượng ủng hộ phải chạy loạn nhằm tránh sự truy sát của chúa Trịnh. Từ Thăng Long cụ Thủy tổ theo đường về quê đón người nhà ở Ðông Thành cùng vào đất Hoàng Xá.
Việc phong tước cho cha con cụ Thủy tổ nhiều khả năng được phong sau này khi các vị đã sống ở Hoàng Xá. Lúc này Trịnh Tùng qua đời (1623), thế lực chúa Trịnh không còn mạnh nữa, các vua sau kế nghiệp xét công trạng của các vị đối với nhà Lê mà phong tước. Ðiều này là hoàn toàn có thể vì nếu trước khi chạy loạn mà cụ Thủy tổ đã là Võ Sơn hầu thì thế lực không nhỏ, nhưng trên thực tế chúng ta thấy rằng họ ta từ trước cũng khá giản dị, chất phác (thường là ông đồ, làm về văn hóa giáo dục-từ đời 4, ông Tú Bình đã là thầy đồ). Nhưng về đời trước cụ Thủy tổ, nhiều khả năng các vị cũng có vị trí đáng kể, một cơ sở để cụ Thủy tổ được phong Võ Sơn hầu.
Một điều mà chúng tôi thấy khó hiểu, trước đây các vị xưa ghi chép về Tổ Tiên khá kỹ. Nhưng một không hề có thông tin gì về gốc gác họ ở Ðông Thành và hoàn cảnh chuyển về Thanh Chương. Có lẽ chính vì biến loạn nên phải mai danh ẩn tích chăng? Hay sách của các cụ xưa bị thiêu trụi hết?
Một điều có thể thấy rằng đức Trung Chính khá rõ ở các vị, các Cụ đã không quá bước theo nhà Nguyễn điều này chúng ta thấy rõ qua nội dung văn bia ở Quả Sơn được dựng lên mấy chục năm sau.
Ðể hiểu rõ về các vị từ Thủy tổ đến ông Tú Bình cần nghiên cứu kỹ giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, đặc biệt những vụ binh biến phù Lê.

Can Tả Hương cống Phạm Khắc Sinh với dòng họ

Hậu duệ đời thứ 6 của Thủy tổ Võ Sơn hầu có vị Hương cống Phạm Khắc Sinh được các đời sau truyền gọi là Can Tả.
Thời Tây Sơn, Can Tả được sắc vua Quang Trung phong:
Chương-Đường nhị huyện dân sư
(Thầy của dân hai huyện Thanh Chương-Nam Đường )
Là thầy dân hai huyện Thanh Chương-Nam Đàn thuở ấy, vừa chăm nom nền Văn hóa giáo dục, Can Tả vừa phải đảm đương thêm những việc xã hội khác, việc xử kiện chẳng hạn.
Giai thoại về vụ kiện hai làng hai bên bờ sông tranh nhau chiếc bãi soi bồi quãng sông Lam gần núi Nguộc (Ngọc Sơn) kể rằng:
Về phía trên bãi soi (doi), can Tả cho thả quả bưởi giữa dòng sông rồi xem quả bưởi trôi vào lạch sông nào mà phân định thắng bại cho đôi bên. Làng thắng kiện xin hậu tạ nhưng ông một mực từ chối. Can Tả coi đó là điều thuận lẽ Trời mà họ được hưởng còn ông thì lo cho tròn bổn phận của người cầm cân nẩy mực mà hết sức công tâm, không được kể công sá ân huệ gì với ông ở đây cả.
Về đạo sắc vua Quang Trung (1788-1792) phong cho ông, rất tiếc là nay không còn ở nhà thờ Can Tả nữa.
Số là thế này: tháng 6-1963, trên đường từ Hà Nội về thăm quê, tôi[1] gặp anh Trần Đình Hượu bên bờ (tả ngạn) sông Mã, nơi đầu cầu Hàm Rồng về phía Bắc. Trong khi trò chuyện, anh Hượu nói: “Mấy tháng trước, mình có về lấy đạo sắc của Can Tả ở nhà thờ Họ các ông”. Tôi hỏi tới lý do thì anh Hượu nói đến việc tìm hiểu chữ Nôm thời Quang Trung và việc xếp hạng danh nhân văn hóa. Khi lưu ý về việc bảo quản báu vật thì anh Hượu nói: “Mình để ở Viện Bảo tàng Lịch sử”.
Qua đi cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Rồi lại qua đi hơn vài chục năm anh em ly tán, cách trở xa xôi.
Mãi tới cuối năm 1993, tôi mới dời về Vinh ở. Anh em bàn nhau tìm lại đạo sắc. Anh Phạm Đức Thớc bèn viết thư ngay cho anh Trần Đình Hượu. Thư chưa kịp tới nơi thì đã có tin buồn: Giáo sư Trần Đình Hượu từ trần.
Mong rằng các con cháu đời thứ 12, 13... của Đức Tổ sống ở Hà Nội lưu tâm tìm được đạo sắc của Can Tả đã lưu lạc trên 30 năm nay.
Can Tả không những có tài về chính sự mà tương truyền ông còn giỏi về thuật phong thủy. Từ việc làng nước dò tìm long huyệt để đặt đường sá, định hướng miếu mạo, đền đài... đến việc gia tộc họ hàng như chăm nom nhà thờ, phần mộ-về địa lý phong thủy, Can Tả còn tạo nên những gò đống bổ sung vào hình thế, địa hình tự nhiên-chẳng hạn Hòn Bút, Hòn Nghiên nhằm cho đời đời con cháu mai sau bảng vàng đỗ đạt, cho dù Ngài tự biết rằng do động chạm nhiều tới Thiên cơ mà riêng mình sẽ bị hãm.
Can Tả-Hương cống Phạm Khắc Sinh là con thứ hai của Hương cống Phạm Bá Thiêm (1710-1768). Được thụ chức Giảng dụ [Huấn đạo?] nên các đời sau gọi ông Cống Phạm Bá Thiêm là Can Giảng Dụ. Can Giảng Dụ là con cả can Sinh đồ Phạm Viết Bình (1672-1736).
Ngày xưa, hai ông đi đò dọc qua bến Thanh Đàm (nay là xã Nam Tân, Nam Đàn). Qua đây, hai cha con các vị có trò chuyện với nhau về nguồn gốc Tổ tiên. Can Tả chép lại như sau:
“Xưa, tiên công ta (tức là cụ Giảng Dụ) đi thuyền với cụ thân sinh qua bến Thanh Đàm. Cụ nói với cụ Giảng Dụ rằng:
-Tổ ta từ huyện Đông Thành đến đây hai anh em. Một ông vào ở làng này. Một ông vào ở giáp Thọ Sơn, thôn Địa Linh, xã Hoàng Xá tức vị Thủy tổ ta ngày nay”.
Về nguồn gốc họ Phạm ta-họ Phạm Đức ngày nay-ở xã Hoàng Xá nay là xã Thanh Long và Thanh Hà (huyện Thanh Chương, Nghệ An) trong bản dịch chữ Hán của mình, ông Phạm Đức Lệ (1906-1986) viết:
“Sách xưa chép: Tổ ta quán ở huyện Đông Thành. Đến vùng này có hai anh em. Một ông vào Bích Triều, thôn Đặng Xá. Một ông vào xã Quảng Xá, thôn Địa Linh, giáp Thọ Sơn là ông Thủy tổ ta ngày nay.”
Tóm lại, Thủy tổ ta là Võ Sơn hầu Phạm Viết Trù (Ghi theo sắc phong để ở nhà thờ Đại tôn) hay còn gọi là Phạm Khắc Trù (?) quán tại Đông Thành nay là huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
Võ Sơn là địa danh, rất có thể là tên một ngọn núi. Còn hầu là tước, ở đây thuộc hạng quốc hầu.
Về nguồn gốc của Thủy tổ Võ Sơn hầu ta, câu đối của Cử nhân Phạm Đức Hoàn (1889-1954) ở nhà thờ Đại tôn còn ghi:
Đông Võ nguyên lai gia hữu thặng
Linh Sơn mạch diễn tộc nhi hương
Có thể tạm hiểu nôm na rằng: Thủy tổ Võ Sơn hầu nguồn gốc từ Đông Thành vốn nhà quyền quý tới sinh cơ lập nghiệp ở đất Linh Sơn (Địa Linh-Thọ Sơn) này, giòng tộc tiếp tục nảy nở sinh sôi thành làng xã đông đúc.
Tộc nhi hương-họ mà đã thành làng-từ trước đến nay. Từ làng quê cha đất Tổ xứ Hoàng Xá xa xưa, hậu duệ Thủy tổ Võ Sơn hầu Phạm Viết trù đã sinh cơ lập nghiệp rải rác nhiều nơi.
Cuối thế kỷ 18, theo Can Tả chép lại thì: “Bỏ quê đi Sơn Nam có Phạm Văn Di, ra Thăng Long có ông Đỉnh, ông Khoa và ông Nhã; vào Phú Xuân có ông Liên, thư ký Ý”.
Can Tả còn chép: “Hai anh em Phạm Dương thì một đi Phú Xuân, một đi Thăng Long”.
Liệu ngày nay ở Huế, Hà Nội và các nơi khác như Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên... đâu đó con cháu có ai còn chép được những ông Tổ họ Phạm có các quý danh như trên không? Xin dành phần trả lời cho các thế hệ đời 12, 13, 14,... sinh sống ở các vùng trên hiếu tâm tìm kiếm.
Hậu duệ đức Tổ Võ Sơn hầu không những rải suốt từ Bắc chí Nam ở trong nước mà còn ra cả nước ngoài làm ăn, cư trú. Chẳng hạn đời 10 có ông Phạm Đức Kham (Phiềng) sang tận Thái Lan làm ăn và hoạt động cách mạng trước cả ông Đặng Thúc Hứa (1870-1931), lập gia đình bên đó, biệt hẳn tung tích.
Mai sau, cảnh xuất ngoại chắc hẳn nhiều hơn. Khác với thời Can Tả, nay ly quê là hiện tượng lành mạnh cần được khích lệ. Có điều, dù đi đâu, ở đâu và thời nào đi chăng nữa-con cháu họ Phạm của đức Tổ Võ Sơn hầu-cũng nên luôn biết chung lòng góp sức, kề vai sát cánh cùng nhau hướng về Tổ tiên mà đùm bọc nâng đỡ nhau trong tình máu mủ cho trọn nghĩa đồng bào.
[1] Ông Phạm Đức Huân (1938-2004)-đời 11. Người biên soạn cuốn Gia phả chi họ Can Nhiêu Nam Phạm Bá Sảnh.

Lời giao ước

Cố ta[1] xưa là cửa thứ phải lên chịu cửa trưởng. Đến nay, tiên khảo ta[2] tay không mà dựng nên cơ nghiệp: Niên hiệu Cảnh Hưng Bính Tí [1756] làm nhà thờ. Đến năm Mậu Tí [1768] lúc hiển khảo ta lâm chung, người nhà xin dặn lại việc sau, Người nói:
“Con cháu phải lo giữ gìn nhà thờ cẩn thận, lo tu bổ mãi mãi và con cháu phải lo chăm chỉ học hành không được lười biếng, bỏ học.”
Nay thân mẫu ta phân thư di chúc mà lập lời giao ước như sau:
Có một ngôi nhà thờ, tộc trưởng muốn thịnh vượng thì cứ tùy ý mà tô vẽ miễn sao cho khéo, cho đẹp. Nếu tộc trưởng thế làm không nổi thì con cháu các cửa phải đồng tâm hiệp lực giàu xuất của, nghèo xuất sức để tu bổ làm thế nào cho vững vàng chắc chắn trăm đời không di dịch.
Nếu ai lấy nê rằng đã phân chi biệt phái rồi, đời càng lâu thì tình càng xa, biệt lập từ đường khác mà không đoái hoài đến gốc rễ căn bản cũng như do giàu nghèo mà suy bì lẫn nhau đến nỗi bỏ nhà thờ hư nát thì kẻ ấy phải mang lấy tội bất hiếu.
Lại từ nay về sau, con cháu các cửa, ai chăm lo học hành mà thi Hương dự trúng tứ trường [cử nhân] thì cả Họ, già trẻ nên chiếu bổ theo sức đóng, góp lại 15 quan tiền cấp cho người thi đậu làm lễ bái yết Tổ tiên. Nếu khoa thi ấy trúng nhiều người thì cũng chỉ cấp chừng ấy tiền mà thôi.
Chỉ có hai việc ấy, con cháu về sau ai có lòng hiếu thảo nên giữ lấy lời tiên khảo ta đã di chúc để thỏa lòng mong muốn của tiên khảo ta.
Con cháu hãy cố gắng!
Nay giao ước: Phạm Bá Uông ký, Thứ nam: cựu Hương cống Phạm Khắc Sinh ký, Phạm Huy Liêm ký, Phạm Gia Cảnh ký,
Sinh đồ Phạm Gia Hưng ký, Phạm Văn Quế ký.
[1] Cố đây là ông Phạm Viết Nhân-Đời 3
[2] Hương cống Phạm Bá Thiêm (1710-1768)-Đời 5

Tổ ta Từ Đông Thành chuyển vào có hai anh em

Tổ ta Từ Đông Thành chuyển vào có hai anh em. Một ông là cụ Võ Sơn hầu, còn một nhánh nữa thế nào?
Can Tả-Hương cống Phạm Khắc Sinh là con thứ hai của Hương cống Phạm Bá Thiêm (1710-1768). Ðược thụ chức Giảng dụ [Huấn đạo?] nên các đời sau gọi Cống Phạm Bá Thiêm là Can Giảng Dụ. Can Giảng Dụ là con cả can Sinh đồ Phạm Viết Bình (1672-1736).
Ngày xưa, hai vị đi đò dọc qua bến Thanh Ðàm (nay là xã Nam Tân, Nam Ðàn). Qua đây, hai cha con các vị có trò chuyện với nhau về nguồn gốc Tổ tiên. Can Tả chép lại như sau:
Xưa, tiên công ta (tức là cụ Giảng Dụ) đi thuyền với thân sinh qua bến Thanh Ðàm. Cụ nói với cụ Giảng Dụ rằng:
-Tổ ta từ huyện Ðông Thành đến đây hai anh em. Một ông vào ở làng này. Một ông vào ở giáp Thọ Sơn, thôn Ðịa Linh, xã Hoàng Xá tức vị Thủy tổ ta ngày nay.
*
Về nguồn gốc họ Phạm ta-họ Phạm Ðức ngày nay-ở xã Hoàng Xá nay là xã Thanh Long và Thanh Hà (huyện Thanh Chương, Nghệ An) trong bản dịch chữ Hán của mình, ông Phạm Ðức Lệ (1906-1986) viết:
Sách xưa chép: Tổ ta quán ở huyện Ðông Thành. Ðến vùng này có hai anh em. Một ông vào Bích Triều, thôn Ðặng Xá. Một ông vào xã Quảng Xá, thôn Ðịa Linh, giáp Thọ Sơn là ông Thủy tổ ta ngày nay.
Một ông vào ở làng này thì chắc ai cũng hiểu rằng ông anh hoặc ông em Thủy tổ ta-cụ Tổ này đã vào sinh cơ lập nghiệp ở làng Thanh Ðàm này-phải không? Ðến đây, chúng tôi suy nghĩ theo hai hướng:
a) Một ông vào làng Bích Triều thôn Ðặng Xá ấy chính là cụ Tổ đã vào làng Thanh Ðàm. Thế là cụ đã dời từ Nam Ðàn về Thanh Chương? Nếu vậy, tiện nhất, cụ đã theo đường thủy ngược sông Lam lượn qua quãng núi Ðụn, núi Trăm,... qua xã Nam Thượng, Nam Ðàn bây giờ rồi đổ lên bến đò Phuống xã Bích Triều, nay là xã Thanh Bích, Thanh Giang của Thanh Chương (hữu ngạn sông Lam). Hai anh em cụ Tổ bấy giờ chỉ cách nhau dăm sáu ki-lô-mét là cùng mà sao không còn dấu vết gì về một họ Phạm ở Phuống có quan hệ khăng khít với họ Phạm ở xã Quảng Xá ta? E không đúng vì ông Tú Bình (đời 4), ông Cử Thiêm (đời 5) còn nhắc tới cụ lên ở đất Thanh Ðàm (Nam Ðàn) kia mà?
Cho nên nói Sách xưa chép: Một ông vào làng Bích Triều thôn Ðặng Xá sợ rằng mức độ chính xác không cao. Vả lại, xuôi làng Thanh Ðàm (xã Nam Tân) sát bờ sông Lam xưa cũng có thôn Ðặng Xá của xã giáp giới với Nam Tân. Liệu có nhầm lẫn giữa hai thôn trùng tên này khi chép lại không?
b) Chúng tôi nghĩ cụ Tổ này không về Bích Triều, Thanh Chương mà rất tin vào ông Tú Bình là cháu 4 đời phải biết về người anh em của cụ Cố Võ Sơn hầu mình rất rõ, hiểu thật tường tận ngọn ngành mới dám chỉ bảo cho con là ông Cử Thiêm khi qua bến Thanh Ðàm.
Vậy cụ Tổ này sinh cơ lập nghiệp ở làng Thanh Ðàm, xã Nam Tân (xã này bỏ bờ sông dời vào núi có lẽ đầu 1979). Phải chăng cụ là Thủy tổ họ Phạm ở Thanh Ðàm mà hậu duệ là ông đề-lại Phạm Hưng? Hậu duệ cụ Tổ này có thể có một chi họ ở xã Nam Ðông? Nghe nói ở xã này có rất nhiều người mang họ Phạm Viết. Lại có thể là hậu duệ của cụ đã vượt Nam Ðàn qua Ðức Thọ (Hà Tĩnh) để lập nên họ Phạm Khắc bên đó? Hỏi chuyện một ông giáo giòng họ Phạm Khắc này, ông ta nói cụ Phạm Khắc Hòe đã đi đối chiếu gia phả nói rằng cụ Tổ gốc Yên Thành, cũng là cụ Phạm Tướng công.
Thủy tổ tự xưng: “Khắc Trù chính thức là ta!” Vậy đức Tổ Phạm Viết Trù còn có tên là Phạm Khắc Trù? Hậu duệ của Ngài ở đời 6 có Hương cống Phạm Khắc Sinh cùng 5 con trai (đời 7): Phạm Khắc Cảnh, Phạm Khắc Xương, Phạm Khắc Huồng, Phạm Khắc Phong, Phạm Khắc Thông. Biết đâu cụ Tổ lên ở đất Thanh Ðàm cũng mang họ Phạm Viết và Phạm Khắc mà hậu duệ ở Hà Tĩnh đã mang họ Phạm Khắc. Chuyến hành hương ra Yên Thành tìm họ, người đầu tiên cần gặp là nhà giáo hưu trí Phạm Khắc Hiệu gần ngã ba Công Thành mang họ Phạm Khắc-xem ra gần gũi với họ ta?
Ấy là chút lòng gửi lại là gợi cho con cháu tìm hiểu về cội nguồn Tổ tiên. Phải kịch liệt chống mê tín dị đoan và hiểu thật đúng thế nào là duy tâm, thế nào là mê tín dị đoan thì ta mới chống được triệt để.
Chúng tôi không muốn con cháu tin vào điều thần bí vừa kể mà chỉ muốn con cháu biết suy ngẫm, nghiên cứu để có những hiểu biết đúng đắn về những điều bí ẩn đó. Vả lại, phép đồng cốt cũng gặp nhiều sai lầm khi có vong linh bất hảo nhập vào đồng nói vu vơ những điều nhằm thỏa mãn bản ngã cá nhân. Bởi vì bình sinh họ sống đầy dục vọng, ham mê danh lợi chức quyền nên giờ đây họ hay tự xưng là đấng này đấng nọ phán bảo lung tung.

Họ Phạm Đức - Quảng Xá không đổi từ gốc Mạc sang

Theo sắc phong hầu của đức Tổ dưới thời Lê Trung hưng: Thủy tổ Phạm Viết Trù có công dẹp Mạc ở Đàng Ngoài hoặc cả Nguyễn ở Ðàng Trong. Tuổi thanh niên của Ngài ước chừng vào cuối đời Lê Thế Tông (1573-1599) nên Ngài có công dẹp Mạc Mậu Hợp (1562-1592). Lúc này, con cháu Mạc chưa phải đổi họ và Thủy tổ ta đã mang họ Phạm rồi.
Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu về họ Phạm gốc Mạc thì chưa thấy bóng dáng Họ ta. Cuốn Họ Phạm ở Nghệ Tĩnh từ gốc Mạc Cao Bằng lưu hành quãng 1979-1980, không có Họ Phạm ta. Cuốn Các chi phái họ Mạc do Mạc Lương Sơn (Hoàng Cao Quí) biên tập 9-1998, trang 26 chỉ ghi chi họ Phạm Văn ở Thanh Long, Thanh Chương cùng họ tên người liên lạc không phải Họ ta. Cuốn Mạc Tộc phả do Mạc Hoài Hương (Phạm Tú) biên soạn 4-1997 ở trang Thời kỳ đổi họ ở Yên Thành Nghệ An tuyệt nhiên không có họ Phạm. Ðiều đó chứng tỏ rằng: họ Phạm vốn có ở Yên Thành không từ gốc Mạc.
Chúng tôi nghĩ rằng, họ Phạm ta rất có thể là một nhánh nhỏ, hậu duệ rất rất xa đời Thủy tổ là danh tướng Phạm Tu (476-545) là Thượng Thủy tổ họ Phạm Việt Nam.

Tế tổ Rằm tháng Giêng năm Kỷ Sửu 2009

Dòng họ Phạm thuộc Thủy tổ Võ Sơn hầu – Phạm Tướng công Phạm Khắc Trù có nhà thờ đại tôn ở xã Thanh Long, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An là một dòng họ lớn. Tại nhà thờ còn lưu giữ đôi câu đối do Thị giảng học sĩ, Cử nhân Phạm Đức Hoàn (1889-1954) là hậu duệ đời thứ 10 viết về dòng họ:
Đông Võ nguyên lai gia hữu thặng
Linh Sơn mạch diễn tộc nhi hương
(Nghĩa là: Ngài Võ Sơn hầu trước ở Đông Thành (Diễn Châu, Yên Thành) nhà có một cỗ xe – chỉ ngài là con nhà tướng
Ở Linh Sơn (Địa Linh và Thọ Sơn nay thuộc xã Thanh Long và Thanh Hà) đang có một dòng họ phát triển như một làng)
Trong những năm qua, dòng họ đã tôn tạo và xây dựng nhà thờ Đại tôn một hệ thống nhà thờ ở các trung tôn, tiểu tôn và các chi họ, trong đó có nhà thờ và đồ tế khí được làm bằng gỗ mít với kiến trúc và bài trí khá tôn nghiêm. Rằm tháng giêng hàng năm là ngày tế Tổ tại nhà thờ Đại tôn.
Năm nay, hàng trăm con cháu xa gần đã về dự lễ tế Tổ. Sau lễ tế và dâng hương tôn nghiêm tưởng nhớ tiên tổ, Hội đồng gia tộc và con cháu đã tổ chức buổi gặp mặt. Con cháu vui mừng trước những việc mà cộng đồng dòng họ đã làm được trong năm qua:
- Thảo luận và thống nhất kế hoạch tiến hành di dời mộ tổ bà về bên cạnh mộ tổ ông và xây dựng lại lăng mộ Thủy tổ. Con cháu xa gần đã tự nguyện đóng góp đủ kinh phí cho công trình này
- Dòng họ đã lập được bản phả hệ khá đầy đủ với 15 đời lưu huyết và phát triển. Bản phả hệ được in bằng giấy ảnh dài 3,4m rộng 1,27m trên nền vàng chữ đỏ tôn nghiêm. Con cháu xa gần quây quần xem bản phả hệ và định vị được mình trong họ hàng.
Với niềm vui đó, Hội đồng gia tộc và con cháu đã thống nhất một số việc làm trong năm 2009:
- Tôn tạo được lăng mộ ông – bà thủy tổ
- Thu thập tư liệu từ các chi, các gia đình để biên tập lại Gia phả của Họ
- Lập quỹ khuyến học mang tên thủy tổ Võ Sơn hầu, ngay tại buổi gặp mặt con cháu xa gần có điều kiện đã đóng góp quỹ được hơn 8 triệu đồng.
Trưởng họ nói lời chia tay với mong muốn hoàn thành các công việc trên và hứa hẹn sẽ nâng cao chất lượng lễ tế để phần hành lễ trong lễ tế năm sau trang nghiêm hơn.
Dòng họ đã kết thúc Lễ tế và buổi họp mặt con cháu trong không khí của ngày Nguyên tiêu Kỷ Sửu ấm áp.
Phạm Đức Hữu

Thống kê một số người họ Phạm Đức-Quảng Xá xa xứ sở

1. Anh em Thủy tổ - đời 1 đến vùng ven sông Lam (Thanh Giang, Thanh Chương hoặc Nam Tân, Nam Đàn ). Theo sách cũ của Họ
2. Con út của Thủy tổ- đời 2 ở tại làng Minh Đạt, Đông Thành. Có thể là xã Vân Hội đầu nguồn sông Bùng
3. ông Ðỉnh, ông Khoa, ông Nhã- đời 5 đi Thăng Long Đại tôn, chi thứ 2
4. ông Liên - đời 6 đi Phú Xuân (Huế) Đại tôn, chi thứ 2
5. Phạm Sanh - đời 7 lên miền trên, phía tây Nghệ An Đại tôn, chi thứ 2 em Phạm Trụ
6. Sinh đồ Phạm Bá Tích, sống thời Tây Sơn- đời 5 Không rõ nơi đến Trung tôn, chi thứ 2 . 43 tuổi, phát điên rồi đi mất. Cha Phạm Tuân.
7. Phạm Huy Cứ, Phạm Huy Viên- đời 6 cùng vợ con bỏ đi huyện Ðông Thành núi Tròn mà mất tích Trung tôn, chi thứ 2 hai anh em; bác Phạm Ðoan
8. Phạm Văn Lạp, Phạm Văn Ấm, Phạm Văn Duệ - đời 7 đến Đông Thành Đại tôn, chi thứ 2 . 3 con ô Phạm Huy Huỳnh
9. Phạm Văn Khuê, Phạm Văn Đức, Phạm Văn Bẩm - đời 8 có hậu duệ ở Đông Thành Đại tôn, chi thứ 2, 3 con ô Phạm Văn Duệ
10. Phạm Văn Hiến (- đời 7) con: Lê Phạm Thường, Lê Phạm Phẩm. làm con nuôi họ Lê ở Thổ Hào, Bích Triều; đổi họ Lê Trung tôn, chi thứ 2, con thứ 2 ô Phạm Trọng Hoán
11. Hai anh em Phạm Dương - đời 7 Người đi Phú Xuân, người đi Thăng Long. Là Phạm Dương Cự và Phạm Dương Xuân? Trung tôn, chi thứ 2
12. Phạm Văn Di - đời 8 đi Sơn Nam Đại tôn, chi thứ 2
13. Thư ký Ý - đời 8 đi Phú Xuân
14. Phạm Ðức Kham (Phiềng) - đời 10 sang Thái Lan hoạt động CM , Trung tôn, chi thứ 2

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 5 năm 2009

Tóm tắt thông tin về họ Phạm Đức - Quảng Xá


(kích chuột vào hình để xem ảnh phóng to)




1. Quê quán: xã Thanh Long và Thanh Hà, huyện Thanh Chương, Nghệ An. Hai xã này xưa là xã Hoàng Xá (chúa Nguyễn cai quản đổi thành Quảng Xá) thuộc tổng Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An.
2. Nguồn gốc: Từ Đông Thành (địa danh xưa, nay là 2 huyện Diễn Châu, Yên Thành), Nghệ An.
3. Thủy tổ: Cụ VÕ SƠN HẦU, PHẠM VIẾT TRÙ
Cụ còn được gọi Phạm Khắc Trù, Phạm Tướng công.
Làm võ tướng dưới triều Lê. Sắc phong năm 1924 của vua Khải Định: “Dực bảo Trung hưng linh phù tôn thần”.
Ngày mất: 29 tháng 9.
Cụ bà: Đinh Thị… (chính thất). Bà là con gái đầu. Hiệu là Từ Thiện An Nhân. Ngày mất: 27 tháng Chạp.
Các cụ sống thời Lê Trung hưng, cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17.
4. Ngày tế tổ: Rằm tháng Giêng
5. Sinh hạ: -Con cả: Hoa Lộc bá, Phạm Viết công, tên tự là Ngộ Đạo;
-Con thứ: Cao Bình quận, Phạm Viết công, thụy là Quý Hoà.
6. Một số người tiêu biểu trong họ
· Đời 5: Hương cống Phạm Bá Thiêm (1710-1768) làm quan Giảng dụ
· Đời 6: Hương cống Phạm Khắc Sinh-con ông Bá Thiêm, thường gọi là Can Tả, làm Chương Đường nhị huyện dân sư thời Tây Sơn.
· Đời 9: Cử nhân Phạm Đức Nhiếp (1849-1904)-con ông Đức Mậu, đỗ CN năm 1888. Làm quan Giáo thụ.
· Đời 10: Cử nhân Phạm Đức Hoàn (1889-1954)-con ông Đức Nhiếp, đỗ CN năm 1918. Làm Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ và được chuyển lên làm việc tại Thư viện Bảo Đại ở Huế.
7. Thông tin kết nối dòng tộc: Nay con cháu chủ yếu sinh sống ở Thanh Chương, Thành phố Vinh, Hà Nội,… đã phát triển đến đời thứ 15. Nhiều người rời quê hương ra Bắc vào Nam từ thời Tây Sơn đến trước năm 1945, có cả đi hoạt động ở Thái Lan, nay vẫn không có thông tin.

Liên hệ: Ông Phạm Đức Nguyên (tộc trưởng)
Đội 3, xã Thanh Hà, Thanh Chương, Nghệ An. ĐT: 038. 393 5469


Ông Phạm Đức Lý (Chủ tịch HĐGT)
Đội 5, Thanh Long, Thanh Chương, Nghệ An.
ĐT: 098.6987560 / 038.3935713
free counters